It was early September of 1986; I boarded a boat along with many others in search of freedom, a better way of life and future.  The journey was frightening and perilous.  On the first day of the journey, a patrol boat identified the boat as an escape boat.  They fired shots at our boat, killing 2 people and injuring 8 others.

The injured were released 1 week after capture.  The rest, over 100 people were imprisoned in temporary holding cells.  It was the most stressful and difficult time, as the police were cruel and brutal.  The police interrogated each and every one daily, frequently and at all hours.  The men and women were separated in two rooms, no one could leave, not even to relieve ourselves.  All of the personal belongings, valuables including jewelries, and money were confiscated.  Even the most hidden place on one’s body were searched and taken.  There were no stones left unturned.  After the violations of our persons, we were eventually transferred to a large prison facility located in providence Tien Giang.

It is unclear to me whether the female prisoners were tortured and I can only account for my own personal experience.  I was placed in an isolation cell for two days and two nights.  The room was about 1.6 square meters in size.  The ceiling held one single dimly lit lightbulb.  In the dimly lit room I could make out words of anguish written in blood by previous occupants.  After two days of isolation, my hands were placed in handcuffs behind my back and I was moved to a larger room.  I slept like this for 24 hours.

As for the male prisoners, I observed lashing scars on the men’s body.  The men were almost always in handcuffs and leg shackles at all times.  I saw an old gentleman who was thin, gaunt and shivering with fear; his cheeks were sunken, his eyes vacant with dark circles.  I was shocked to see the drastic change in the old man whom I recognized to be the man I sat next to on the boat.  Very gently and in a hushed voice I asked the old gentleman, “what did they do to you?”  The old man shaking his head could only reply, “They are evil”.

After a week of interrogation, everyone was moved to a big work camp within the prison compound in the providence Tien Giang.  The work camp had 10 huts, each hut housed approximately 100 people.  There were 8 huts for the men and 2 for the women.  The roof of the hut is constructed of coconut leaves; the floor is of mud/dirt.  The majority of people slept on grass mats or nylon sheets on the dirt floor, a few lucky ones slept on a piece of wood.  While in the work camp we were allowed to go out of doors to do manual labor, but under the watchful eyes of the prison guards.

Mosquitos were a constant nuisance, but the rats were my worst nightmare.  Every night a plague of rats, some as big as cats would run across the floors, jump from beam to beam with no fear of humans.  I despised the rats especially, because they had eaten my food ration prepared and brought in by my family.  That week I lived by the grace and kindness of fellow female prisoners who would each part a little bit of food from their own ration so that I wouldn’t go hungry.  I learned very quickly to guard my food from the rats

Every day the prisoners were assigned to a labor task.  The female prisoners remained in the work camp, weaving grass mats of all sizes; the largest grass mats were used for drying rice grains.  The male prisoners were assigned to hard manual labor, working in the fields, digging, moving rocks/stones, or whatever work that is generally difficult and unpleasant.  The male prisoners all had their head shaved to differentiate the prisoners from the general population, making escape impossible, as well as creating the shameful stigmatism of those “bad people”.

I remember the day clearly; I was released on December 26, 1986.  My family worked tirelessly finding ways to have me released from prison by means of finding, negotiating and paying off the ‘right’ official.  As far as I am aware, in 1986 the people who were caught trying to escape by boat were jailed for a year, the boat captain got 5 years, and the people who arranged and organized the escape got 10 years.  I was fortunate to have only been imprisoned for 3 months.  Thanks to my family’s diligence in finding a way to get me released.

This is only a small account of my imprisonment in providence Tien Giang My Tho.  The terrifying and sufferings of imprisonment are at times at the forefront of my thoughts, but I have learned to cope.  I am frequently reminded at how blessed I am to have been able to live in a country where so many other Vietnamese continue to seek to live in freedom.

Author:  Tho Hoang

Translation by Mai Busing

Vào khoảng đầu tháng 9, 1986, chuyến tàu vượt biển đi tìm tự do và tương lai của tôi cũng qua bao gian nan và sợ hãi.. Chuyến tàu đi được 1 ngày đã bị công an Việt Nam phát hiện và bắn vào chiếc tàu làm hai người chết và tám người bị thương. Những người bị thương được thả về sau một tuần bị bắt, số người còn lại, khoảng hơn 100 người, bị chuyển sang những trại tạm giam và cuối cùng đến trại tù ở tỉnh Tiền Giang.

Trong trại giam là những ngày căng thẳng và sợ hãi, vì từng người bị tra khảo và đối mặt với công an mỗi ngày. Tù nhân nam và nữ ở hai phòng riêng biệttrong khi điều tra, nhưng tất cả không được ra khỏi phòng ngay cả vệ sinh cá nhân.. tất cả nữ trang và tiền, đều bị công an “tịch thu”, mặc dù tù nhân dấu kín cỡ nào, tụi công an đều tìm ra và lấy tất cả.

Tù nhân nữ, tôi không biết có bị đánh đập hay không? nhưng riêng tôi bị nhốt trong “xà lim” phòng cách biệt trong hai ngày, hai đêm. Phòng này rất nhỏ, khoảng 1.60 mét vuông, trần nhà có một ngọn đèn vàng leo lét, xung quanh với bức tường trên có những chữ viết đầy nỗi hận thù viết bằng máu của những tù nhân trước. Sau hai ngày ở “xà lim”, tôi được chuyển sang phòng khác lớn hơn, nhưng bị còng tay suốt một đêm.

Tù nhân nam, tôi thấy trên thân hình họ có những dấu vết thương của sự đánh đập và tra tấn, họ bị còng tay, còng chân suốt ngày và đêm. Có một bác ngồi cạnh tôi trên cùng chuyến tàu, sau 1 tuần bị bắt, và tình cờ được gặp lại bác, tôi không thể nhận ra bác nữa. Trông bác gầy gò, run rẩy với cặp mắt thâm quầng mệt mỏi. Tôi nhẹ nhàng hỏi thăm bác “Bác ơi, chúng nó làm gì bác?” Bác nhìn tôi lắc đầu và nói “Chúng nó ác lắm, cháu ơi!”

Sau một tuần tra khảo, mọi người chuyển sang trại tù lớn ở tỉnh Tiền Giang. Thời gian này, mọi người được ra ngoài “lao động”. Trại có mười dãy nhà, tám dãy cho tù nam, hai dãy cho tù nữ.. Mỗi dãy nhà có thể chứa hơn 100 người. Mái nhà lợp bằng lá dừa, nền nhà là đất sét khô; đa số tù nhân ngủ dưới nền đất với mãn chiếuhoặc tấm nylon. Có một số ít tù nhân, chắc họ ở tù lâu nên có mãn gỗ để ngủ.

Muỗi và chuột ở trại tù là nỗi sợ của tôi. Hằng đêm, có những đàn chuột, có con to gần bằng con mèo, chúng chạy nhảy chẳng sợ gì ai, tôi ghét lũ chuột vô cùng vì có lần chúng đã ăn hết giỏ đồ ăn khô của tôi, mà người nhà mới thăm nuôi tôi vào cuối tuần.

Hàng ngày tất cả tù nhân phải đi “lao động”. Nữ thì ở trong trại, ngồi đan những sợi mây tre lá thành những miếng lớn giống như chiếu để dùng phơi lúa. Nam thì đi ra ngoài trại để đào kênh hoặc làm ruộng và tất cả tù nam đều bị cạo đầu. Cạo đầu để khi ra ngoài, người dân sẽ biết đây là “tù nhân”.

Tôi ở tù khoảng ba tháng, đến 26 tháng 12, 1986, tôi được thả về lại với gia đình. Gia đình tôi đã tìm đủ mọi cách  để cứu tôi thoát khỏi cảnh ngục tù, dĩ nhiên gia đình tôi phải mất biết bao tiền và công sức.

Tôi được biết, vào khoảng năm 1986,  những người khách đi vượt biên nếu bị bắt thì sẽ ở tù một năm, người lái tàu năm năm và người tổ chức chuyến vượt biên là mười năm tù.

Đây chỉ là vắn tắt trong những ngày tôi ở tù tại Tiền Giang, Mỹ Tho. Sự khổ sở, sự sợ hãi trong khi vượt biên và trong tù cũng đã ám ảnh tôi, nhưng rồi tôi cũng đã vượt qua và may mắn được sống trên đất nước mà tôi và cũng rất nhiều người Việt Nam đã và đang đi tìm.

Tháng 3, 2017

Hoàng Anh Thơ

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *